Blog

CÁC DI SẢN THẾ GIỚI TẠI AUSTRALIA

1. Nhà hát Opera Sydney
 

Khánh thành vào năm 1973, nhà hát Opera Sydney (còn gọi là nhà hát Con Sò) là một công trình kiến trúc vĩ đại của thế kỷ 20, tập hợp nhiều sự sáng tạo và đổi mới trong cả hai hình thức kiến trúc và thiết kế cấu trúc. Một tác phẩm điêu khắc đô thị lớn đặt ở mũi của một bán đảo nhô ra Cảng Sydney, tòa nhà đã ảnh hưởng lâu dài về kiến trúc với hình con sò hay những cánh buồm căng gió ra khơi, là một trong những điểm biểu diễn nghệ thuật nổi tiếng nhất thế giới. Nhà hát là một kiệt tác của kiến trúc thế kỷ 20, một thiết kế tuyệt vời cùng với thành tựu về kỹ thuật đặc biệt và đổi mới công nghệ, tạo cho nhà hát có vị trí như một biểu tượng nổi tiếng thế giới của kiến trúc. Đây là một thử nghiệm táo bạo và có tầm nhìn xa. 
 

Nhà hát tọa lạc trên diện tích 1,8ha tại Bennelong Point ở bến cảng Sydney, gần với cây cầu Sydney Habour tạo nên một hình ảnh đặc trưng của Úc, có kích thước 180m x 120m (tính ở điểm rộng nhất). Kết cấu có 580 cột bê tông đóng sâu 25m dưới mực nước biển. Gồm 5 khu nhà hát, 5 studio tập diễn, 2 sảnh chính, 4 nhà hàng, 6 quán bar và một số cửa hàng lưu niệm.  Nội thất tòa nhà bao gồm đá granite hồng khai thác ở Tarana, New South Wales, gỗ và gỗ dán được cấp từ New South Wales. Các nhà hát có hình một loạt các con sò được biểu trưng bằng cách cắt ra thành các bán cầu. Sảnh hòa nhạc và nhà hát nhạc kịch được đặt ở 2 nhóm vỏ sò lớn nhất, các nhà hát khác nằm ở các nhóm vỏ sò khác. Một vài nhóm vỏ sò nhỏ hơn được dùng để đặt nhà hàng. 5 nhà hát tạo nên nơi biểu diễn:


•    Sảnh hòa nhạc có 2679 chỗ, là nơi có cây đàn đàn organ dạng cơ khí lớn nhất thế giới với hơn (với hơn 10.000 ống sáo).
•    Nhà hát opera với 1547 chỗ là nơi biểu diễn chính của Opera Australia. Đây cũng được Công ty Ballet Australia sử dụng.
•    Nhà hát kịch có 544 chỗ.
•    Rạp hát (playhouse) có 398 chỗ
•    Nhà hát studio có 364 chỗ.
 
Việc quy hoạch nhà hát opera Sydney bắt đầu cuối thập niên 40 thế kỷ 20 khi Eugene Goossens, giám đốc của Nhạc viện bang New South Wales vận động hành lang cho một địa điểm xây nhà hát lớn. Tại thời điểm đó, địa điểm cho các chương trình kịch được tổ chức ở Tòa Thị chính Sydney nhưng địa điểm này không đủ rộng. Đến 1954, Goossens đã thành công trong việc nhận được ủng hộ của Thống đốc bang New South Wales Joseph Cahill - người đã kêu gọi thiết kế nhà hát opera tinh tế. Goossens chính là người đã kiên quyết lựa chọn Bennelong Point làm địa điểm xây nhà hát. Cahill muốn địa điểm này gần Nhà ga xe lửa Wynyard ở tây bắc Sydney CBD.

 

Cuộc thi thiết kế do Cahill tổ chức nhận được 233 đề án. Thiết kế cơ sở được chấp thuận năm 1955 và được trình lên bởi Jþrn Utzon, một kiến trúc sư người Đan Mạch. Utzon đã đến Sydney năm 1957 để giúp giám sát công trình. Khu The Fort Macquarie Tram Depot tọa lạc tại vị trí được chọn xây nhà hát đã được đập bỏ năm 1958 và lễ khởi công xây dựng nhà hát bắt đầu tháng 3/1959. Dự án được chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn I (1959–1963) bao gồm việc xây dựng dãy ghế vòng bên trên. Giai đoạn II (1963–1967) xây dựng các vỏ sò bên ngoài. Giai đoạn III xây dựng và thiết kế nội thất (1967–1973).
Nhà hát đã được đưa vào Danh sách Di sản quốc gia vào năm 2005 theo Luật Bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học năm 1999, và được công nhận là di sản thế giới của UNESCO vào năm 2007.

 

2. Đảo Fraser
 

Đảo Fraser là một hòn đảo nằm ngoài khơi bờ biển phía Đông, dọc theo tiểu bang Queenland, cách thành phố Brisbane khoảng 200 km về phía Bắc, Úc. Đây là vùng địa phương của Khu vực Bờ biển Fraser. Hòn đảo có chiều dài khoảng 123 km, rộng 24km khiến nó là đảo cát lớn nhất thế giới với diện tích 1840 km². Nó cũng là hòn đảo lớn nhất của tiểu bang Queensland, hòn đảo lớn thứ sáu của Úc và là đảo lớn nhất trên bờ biển phía Đông Úc. Năm 1992, hòn đảo đã trở thành một di sản thế giới của UNESCO. 
Hòn đảo này có những cánh rừng nhiệt đới, rừng bạch đàn, rừng ngập mặn, đầm lầy than bùn, cồn cát và đất ven biển. Hòn đảo được tạo thành từ cát đã được tích lũy trong khoảng 750.000 năm trên nền một núi lửa, cung cấp một lưu vực tự nhiên cho các trầm tích tích tụ tại một khu vực xa bờ, và hiện vẫn đang phát triển mạnh mẽ dọc theo bờ biển phía bắc hòn đảo. Không giống như nhiều cồn cát, thực vật tại đảo cát này rất phong phú do có sự hiện diện của rễ nấm trong cát, nó tạo ra các chất dinh dưỡng và được nhiều loại thực vật tại đây sử dụng. Đảo Fraser là nhà của một số lượng nhỏ các loài động vật có vú, đa dạng các loài chim, bò sát và lưỡng cư, bao gồm cả cá sấu nước mặn. Hòn đảo này là một phần của khu vực Bờ biển Fraser và được bảo vệ trong Vườn quốc gia Great Sandy.

 

Đảo Fraser đã từng là nơi sinh sống của con người cách đây 5.000 năm. Thuyền trưởng James Cook đã phát hiện ra hòn đảo vào tháng 5 năm 1770. Tiếp sau đó, Matthew Flinders đã hạ cánh xuống gần điểm phía bắc của hòn đảo vào năm 1802. Trong khoảng thời gian ngắn, hòn đảo được biết đến như là đảo Great Sandy. Hòn đảo này được gọi là Fraser do những câu chuyện về một người sống sót trong vụ đắm tàu tên là Eliza Fraser. Ngày nay, nó là một điểm du lịch phổ biến được nhiều người ghé thăm. Theo điều tra dân số, dân cư trên đảo là 194 người vào năm 2011.
 

Đảo Fraser được chia tách với đất bởi eo biển Great Sandy. Mũi phía nam, gần vịnh Tin Can, nằm về phía bắc của bán đảo Inskip. Điểm cực bắc của hòn đảo là Mũi Sandy, nơi có ngọn hải đăng Sandy Cape hoạt động từ năm 1870-1994. Việc xây dựng ngọn hải đăng trở thành khu định cư châu Âu thường xuyên đầu tiên trên đảo. Các thị trấn lớn gần hòn đảo nhất là Hervey Bay,Maryborough và Bundaberg. Vịnh Marloo và Platypus lần lượt nằm tại bờ biển phía đông bắc và tây bắc của đảo. Moon Point là điểm xa nhất về phía tây của Fraser. 

3. Great Barrier Reef

 

Great Barrier Reef là một nơi đáng chú ý của sự đa dạng và vẻ đẹp trên bờ biển phía đông bắc của Australia, nó chứa đựng bộ sưu tập lớn nhất thế giới của các rạn san hô với hơn 400 loài san hô, 1500 loài cá và 4000 loại động vật thân mềm, là hệ thống đá ngầm san hô lớn nhất thế giới, bao gồm khoảng chừng 3.000 tảng đá ngầm riêng rẽ và 900 hòn đảo, kéo dài khoảng 2.600 km, bao phủ một vùng có diện tích xấp xỉ 344.400 km2. Phần đá ngầm nằm ở khu vực Biển San Hô, cách bờ biển Queensland về hướng đông bắc Úc. Một phần lớn đá ngầm được bảo vệ bởi công viên hải dương rạn san hô Great Barrier.
Rạn san hô Great Barrier có thể được nhìn thấy từ ngoài không gian và có khi được quy cho là đơn thể lớn nhất thế giới. Trong thực tế, nó được hình thành từ hàng triệu sinh vật nhỏ, là những polyp san hô. Rạn san hô Great Barrier cũng được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1981. Đài CNN đã gọi nó là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Tổ chức Tín Quốc Queensland coi nó là biểu tượng của bang Queensland. Các đá san hô ngầm dao động (tiến và lùi) khi mực nước biển thay đổi. Trung tâm nghiên cứu đá ngầm của Úc đã tìm thấy nhiều trầm tích san hô đã tồn tại từ nửa triệu năm về trước. 

 

Theo công viên hải dương rạn san hô Great Barrier, cấu trúc đá san hô ngầm đang sinh sống hiện nay đã bắt đầu phát triển trên một nền địa chất cũ khoảng 18.000 năm trước. Học viện Hải Dương Học Úc cho rằng sự kiện này đã bắt đầu từ 20.000 năm trước - cả hai dự đoán này đều đặt sự kiện tại thời gian của giai đoạn Tối Chung Băng Kỳ. Quanh thời điểm đó, mực nước biển thấp hơn ngày nay khoảng 120m. Vùng đất đã hình thành ra thể nền của rạn san hô Great Barrier là một vùng đồng bằng ven biển với những ngọn đồi lớn (trong số đó có những cái là phần còn lại của những tảng đá lâu đời hơn). 
 

Từ 20.000 cho đến 6.000 năm trước, mực nước biển tăng đều đặn. Khi mực nước biển tăng, các san hô có thể mọc cao hơn trên những ngọn đồi của miền đồng bằng ven biển. Khoảng 13.000 năm trước, mực nước biển thấp hơn ngày nay khoảng 60m, và các san hô đã bắt đầu mọc quanh các ngọn đồi của miền đồng bằng ven biển - sau đó là các hòn đảo lục địa. Khi mực nước biển tăng cao hơn, hầu hết các hòn đảo lục địa bị nhấn chìm. Các san hô lớn nhanh quá các ngọn đồi để hình thành ra các đảo san hô (cays) và đá ngầm san hô. Mực nước biển trên rạn san hô Great Barrier đã không tăng đáng kể trong 6.000 năm qua. Các kết quả nghiên cứu do trung tâm nghiên cứu đá ngầm Úc tài trợ đã dự đoán tuổi của cấu trúc đá ngầm san hô hiện tại vào khoảng 6.000-8.000 năm. 
 

Ở vùng phía bắc của rạn san hô Great Barrier, các đá ngầm dải và đá ngầm châu thổ đã hình thành tại đây - những cấu trúc đá ngầm này không được tìm thấy trong toàn bộ phần còn lại của hệ thống rạn san hô Great Barrier. San hô lâu đời nhất là một loài san hô của Porites, có tên gọi là san hô tảng lăn, chỉ khoảng 1.000 năm tuổi (nó mọc dài khoảng 1 cm/1năm). 

Đây là một khu vực đa dạng về sinh học, bao gồm cả nhiều loài đang lâm nguy và đang gặp nguy hiểm. 30 loài cá voi, cá heo đã được ghi nhận tại rạn san hô Great Barrier, kể cả loài cá voi Dwarf Minke, cá heo Indo-Pacific Humpback, và cá voi Humpback. Một lượng lớn dân số cá nược cũng sinh sống ở đây. Sáu loài rùa biển đã đến rạn san hô để gây giống, như: Green, Leatherback, Hawksbill, Loggerhead, Flatback, và Olive Ridley. Trên 200 loài chim (bao gồm cả 40 loài chim nước) sống trên vùng trời của rạn san hô Great Barrier, kể cả loài đại bàng biển bụng trắng và chim nhạn hồng. 5000 loài động vật thân mềm cũng đã được ghi nhận, có cả loài trai khổng lồ, nhiều loài Nudibranch và ốc sên vỏ hình nón. 17 loài rắn biển. Hơn 1500 loài cá, có cả Clownfish, Red Bass, Red-Throat Emperor, và nhiều loài cá Snapper và cá hồi san hô. 400 loài san hô kể cả san hô cứng và san hô mềm. Có 15 loài cỏ biển ở gần rạn san hô thu hút các nược và rùa biển. 500 loài tảo đại dương hoặc tảo biển. Loài sứa Irukandji cũng sinh sống ở rạn san hô này.

 

 4. Tasmanian Wilderness
 

Vùng hoang dã ở Tasmania là vùng đất hoang ở miền tây, tây nam và Cao nguyên miền trung đảo Tasmania, Úc. Vùng Hoang dã Tasmania đã được ghi vào Danh sách Di sản Thế giới  của UNESSCO vào năm 1982 và mở rộng vào năm 1989, tháng 6 năm 2010, tháng 6 năm 2012 và một lần nữa vào tháng Sáu năm 2013. Là một trong 15 địa điểm di sản thế giới bao gồm trong danh sách Di sản quốc gia vào ngày 21 tháng năm 2007.
 
Trên đảo Tasmania cũng có các khu vực khác mang yếu tố hoang dã và cũng có một tổ chức gọi là Hội vùng hoang dã ở Tasmania (Tasmanian Wilderness Society). Vùng hoang dã thuộc Di sản thế giới là một trong các vùng được bảo tồn lớn nhất ở Úc, có diện tích là 13.800 km², chiếm khoảng 20% diện tích đảo Tasmania.
Vùng này là một trong các vùng hoang dã có khí hậu ôn hòa cuối cùng trên thế giới, gồm cả Vùng hoang dã tây nam Tasmania nổi tiếng. Các di tích tìm thấy trong các hang động đá vôi, chứng tỏ là vùng này đã có người cư ngụ từ trên 20.000 năm.
Các Vườn quốc gia và khu bảo tồn sau đây nằm trong Vùng hoang dã ở Tasmania :
•    Vườn quốc gia Cradle Mountain-Lake St Clair
•    Vườn quốc gia Franklin-Gordon Wild Rivers
•    Vườn quốc gia Hartz Mountains
•    Vườn quốc gia Mole Creek Karst
•    Vườn quốc gia Tây nam
•    Vườn quốc gia Walls of Jerusalem
•    Central Plateau Conservation and Protected Areas
•    Devils Gullet State Reserve
      
Trong những người thổ dân phía tây nam phát triển một truyền thống văn hóa độc đáo dựa trên một hòn đá và xương bộ công cụ chuyên dụng cho phép săn bắt và chế biến của một loài săn mồi duy nhất (wallaby Bennett) đã cung cấp gần như tất cả protein và chất béo. Mở rộng hệ thống hang động đá vôi có chứa các trang web nghệ thuật trên đá đã được ngày vào cuối thời kỳ Pleistocene. Phía tây nam thể hiện nghệ thuật của thổ dân Tasmania trong Kỷ Băng Hà cuối cùng chỉ được biết đến từ các hốc tối của hang động đá vôi.

 

5. Purnululu National Park
 

Với diện tích 239.723 ha, Vườn quốc gia Purnululu tọa lạc tại khu vực Kimberley của Tây Úc.  Nó được công nhận là Di sản thế giới vào năm 2003. Purnululu là tên được đặt cho các sa thạch diện tích Bungle Bungle của thổ dân người Kija . Tên có nghĩa là sa thạch hoặc có thể là một hàng rào của cỏ bó . Phạm vi, nằm hoàn toàn trong công viên, có độ cao cao 578 mét trên mực nước biển. Nó nổi tiếng với các mái vòm bằng đá sa thạch, bất thường và trực quan nổi bật với phân chia của họ trong ban nhạc xen kẽ màu cam và màu xám. Các dải của mái vòm là do sự khác biệt trong nội dung bằng đất sét và độ xốp của các lớp đá sa thạch: các băng màu cam bao gồm oxy hóa sắt trong các hợp chất lớp mà khô quá nhanh cho cyanobacteria nhân; các ban nhạc màu xám bao gồm các vi khuẩn lam phát triển trên bề mặt của lớp sa thạch nơi ẩm tích tụ. Các Bungle Bungle là một trong những sự cố rộng lớn nhất và ấn tượng của đá sa thạch tháp (hoặc hình nón) đá vôi địa hình trên thế giới. Các Bungle Bungles là một cao nguyên của kỷ Devon đá sa thạch, chạm khắc thành một khối tháp hình tổ ong hình với thường xuyên xen kẽ, ban nhạc màu xám đen tối của cynobacterial vỏ (nơi sinh vật tế bào quang hợp). Cao nguyên được chia cắt bởi 100-200 m sâu, hẻm núi tuyệt đối mặt và hẻm núi khe . Làm thế nào chúng được hình thành chưa hoàn toàn hiểu rõ. Bề mặt c?a chng mong manh nhưng ổn định bởi lớp vỏ của oxit sắt và vi khuẩn. Cung cấp một ví dụ nổi bật về sự hình thành đất thời tiết dissolutional đá sa thạch, với loại bỏ các hạt cát bởi gió, mưa trên sườn núi. Lối vào các công viên bằng đường bộ là thông qua Spring Creek Track, từ phía Bắc Quốc lộ lớn khoảng 250 km về phía nam Kununurra, cho đến cuối cùng của ca khúc tại trung tâm du khách. Theo dõi dài 53 km và có thể sử dụng chỉ là trong mùa khô (khoảng 1 tháng tư - 31 tháng 12), và chỉ bằng bốn bánh (4WD) xe. Một cách an toàn điều hướng phải mất khoảng 3 giờ. Truy cập bằng đường hàng không là ít đòi hỏi; các chuyến bay trực thăng có sẵn, từ Bellburn Airstrip trong công viên quốc gia, và máy bay hạng nhẹ, từ cả hai Warmun , 187 km về phía nam Kununurra.
 

6. Vịnh Shark 
 

Vịnh Shark nằm ở cực tây của nước Úc, bang Tây Úc, nằm ở khoảng trên 25 ° 30'S 113 ° 30'E Tọa độ : 25 ° 30'S 113 ° 30'E , cách thành phố Perth khoảng 800 km về phía bắc. Một chuyến thám hiểm do Dirk Hartog vào năm 1616 trở thành đoàn thám hiểm đầu tiên tới vịnh Shark và là thứ hai của châu Âu đến thăm Úc. Shark Bay được đặt tên bởi William Dampier vào ngày 7 tháng 8 năm 1699.
 

Vịnh Shark hay còn gọi là vịnh cá mập là vùng tảo biển lớn nhất thế giới (với diện tích 4800 km2) được bao bọc bởi các dải đất dài, đường bờ biển lên tới 1500 km và là nơi sinh sống của rất nhiều loài động vật bao gồm 323 loài cá như cá voi lưng gù, cá đuối, cá mập, cá heo, rùa biển và khoảng 12,5% số lượng loài bò biển trên thế giới. Ngoài ra là 26 động vật có vú bị đe dọa tại Úc, hơn 230 loài chim, và gần 150 loài bò sát...
      
Vịnh Shark có diện tích cỏ biển lớn nhất thế giới, với bãi cỏ trải dài hơn 4.800 km ² của vịnh. Đây cũng là nơi có số lượng các loài cỏ biển lớn nhất được ghi nhận với khoảng 12 loài đã được tìm thấy, 9 loài trong số đó cùng phát triển tại một nơi. Các thảm cỏ biển là một phần quan trọng của môi trường sinh thái phức tạp của vịnh. Qua hàng ngàn năm, trầm tích đã tích lũy để hình thành thảm cỏ biển rộng lớn. Điều này đã nâng cao đáy biển, làm cho vịnh trở lên nông. Cỏ biển là cơ sở của chuỗi thức ăn trong vịnh Shark, cung cấp nhà và nơi trú ẩn cho nhiều loài sinh vật biển khác nhau, đặc biệt là loài lợn biển, loài phụ thuộc hoàn toàn vào cỏ biển. Ngoài ra, cỏ biển cũng hạn chế dòng chảy thủy triều của biển qua khu vực vịnh, ngăn chặn thủy triều đại dương pha loãng nước biển. Nước của vịnh mặn hơn 1,5-2 lần so với biển xung quanh.

 

Vùng bờ biển Shark là những bãi cát trắng và vách đá dài tạo ra cảnh quan rất đẹp. Với sự đa dạng sinh học, địa dạnh Vịnh Shark là một trong những kỳ quan thiên nhiên của nước Úc và được UNESCO công nhận di sản thiên nhiên thế giới vào năm1991. Khu vực được công nhận bao gồm Công viên biển Vịnh Shark, Vườn quốc gia Francois Peron, Khu bảo tồn thiên nhiên Zuytdorp, Khu bảo tồn thiên nhiên Biển Hamelin Pool cùng nhiều hòn đảo trong vịnh. Tuy nhiên, hai khu vực trong vịnh là Useless Loop và Denham đều bị loại bỏ ra khỏi danh giới di sản.
 

7. Gondwana Rainforests of Australia 
 

Các rừng mưa Gondwana của Úc trước đây có tên là Central Eastern Rainforest Reserves (Các khu bảo tồn rừng mưa miền trung đông), là khu vực rừng mưa cận nhiệt đới rộng lớn nhất thế giới. Khu vực này gồm 50 khu bảo tồn riêng rẽ có diện tích tổng cộng là 3.665 km2, tụ tập quanh biên giới giữa 2 bang New South Wales - Queensland. 
Các rừng mưa Gondwana có tên như vậy vì các vật hóa thạch ở đây chỉ cho thấy khi siêu lục địa ở nam bán cầu Gondwana tồn tại thì nó đã được các rừng mưa bao phủ, trong đó gồm các loại cây cùng loài như hiện nay. Hàng năm, số du khách tới thăm khu vực này là khoảng 2 triệu lượt người. 

 

Gondwana Rainforests được UNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới năm 1986, lúc đầu chỉ gồm các rừng của bang New South Wales (3.600 km²); năm 1994 mở rộng thêm các rừng của bang Queensland (592 km²). Các khu bảo tồn rừng mưa này có một giá trị bảo tồn rất cao, với khoảng trên 200 loài động và thực vật hiếm quí và có nguy cơ tuyệt chủng.
 

8. Ningaloo Coast
 

Rặng san hô Ningaloo là một rặng san hô nằm ở bờ tây Úc, cự ly khoảng 1200 km về phía bắc Perth. Rặng san hô dài 260 km và là một rặng san hô gần bờ dài nhất thế giới. Trên đất liền là các mạch nước ngầm, hệ thống hang động và các núi đá vôi. Ningaloo còn nổi tiếng vì là nơi tập trung săn mồi theo mùa của cá nhám voi và tranh luận bảo tồn xung quanh tiềm năng việc phát triển du lịch tiềm năng của rặng san hô này. Năm 1987, rặng san hô Ningaloo được chuyển thành vườn quốc gia hải dương Ningaloo. Năm 2011, UNESCO đưa rặng san hô này và các khu vực xung quanh vào danh sách di sản thế giới.
 
9. Macquarie Island 

 

Đảo Macquarie thuộc Thái Bình Dương, nằm cách đảo Tasmania khoảng 1.500 km về phía Đông Nam. Hòn đảo nằm giữa đại lục Nam Cực và đại lục Australia, có chiều dài 34 km và rộng 5,5 km. Gần đó, ở phía Bắc có đảo Clerk và các đảo san hô, đảo đá về phía Nam.
 
Đây là một hòn đảo có ý nghĩa bảo tồn lớn, nơi duy nhất trên thế giới đang có lớp đất đá sâu dưới đáy biển 6 km đang được nâng dần lên và tiếp xúc với mặt nước biển và cũng là một địa điểm độc đáo với lớp đá bazan qua các đợt phun trào của núi lửa. Vì thế, nó là địa điểm nghiên cứu địa chất, quá trình hình thành và sự vận động giữa các mảng lục địa tới vỏ trái đất.
 

Cảnh quan thiên nhiên ở Macquarie cũng vô cùng ấn tượng, với những sườn núi dốc ven biển, những hồ nước trong đất liền, hệ động vật hoang dã và thảm thực vật đầm lầy trên đảo. Trên đảo là nơi sinh sống của loài hải cẩu, voi biển.. và đặc biệt là loài chim cánh cụt hoàng đế.

10. Đảo Heard và quần đảo McDonald 
 

Đảo Heard và quần đảo McDonald (viết tắt là HIMI) là một quần đảo cằn cỗi không người ở nằm ở Nam Đại Dương, khoảng hai phần ba khoảng cách từ Madagascar đến châu Nam Cực, hoặc 7718 km từ phía nam Rajapur, Maharashtra. Nó là lãnh thổ của Úc từ năm 1947, và chỉ chứa hai núi lửa trong lãnh thổ thuộc Úc, một trong số đó, ngọn Mawson, là ngọn núi cao nhất nước Úc. Tổng kích thước của nhóm đảo là 372 km². Các đảo đều không có người ghé qua cho đến giữa thập niên 1850, và rất có thể chưa từng có người nào nhìn thấy đảo cho đến thời gian đó. Peter Kemp, một người đánh bắt hải cẩu người Anh, là người đầu tiên cho rằng mình đã nhìn thấy một hòn đảo vào ngày 27 tháng 11 năm 1833, từ chiếc thuyền hai buồm Magnet trong cuộc hành trình từ Kerguelen đến châu Nam Cực và được cho là đã ghi đảo lên hải đồ năm 1833. Một người đánh bắt hải cẩu người Mỹ, Thuyền trưởng John Heard, trên chiếc tàu Oriental, đã nhìn thấy hòn đảo vào ngày 25 tháng 11, 1853, trên đường từ Boston đếnMelbourne. Ông đã báo cáo sự khám phá của mình một tháng sau đó và đặt tên hòn đảo là tên mình. Thuyền trưởng William McDonald trên chiếc Samarang đã khám phá ra quần đảo McDonald gần với Đảo Heard sáu tuần sau đó, vào ngày 4 tháng 1, 1854.
      
Không có cuộc đổ bộ nào lên quần đảo cho đến tháng 3 năm 1855, khi những người đánh bắt hải cẩu từ tàu Corinthian do Thuyền trưởng Erasmus Darwin Rogers dẫn đầu đã đặt chân lên bờ, tại nơi được gọi là Điểm Oil Barrel. Trong thời kỳ đánh bắt hải cẩu từ năm 1855–1880, một số nhà đánh bắt hải cầu người Mỹ đã ở trên đảo trong vòng 1 năm hoặc hơn, trong trống những điều kiện kinh khủng trong những ngôi lều hôi thối và tăm tối, cũng ở Điểm Oil Barrel. Vào thời điểm cao nhất ở đó có đến 200 người sinh sống. Đến năm 1880, đa số hải cẩu bị tiêu diệt và những người săn bắt rời khỏi đảo. Nói chung, hơn 100.000 thùng dầu hải cẩu voi được làm ra trong giai đoạn đó.


Đảo Heard là một đảo hoang vắng và nhiều núi non rộng 368 km². Những ngọn núi của nó được phủ một lớp băng trong đó chiếm ưu thế nhất là Núi Mawson, một núi lửa phức hợp cao 2.745 m (9.006 ft) tạo thành một phần của khối núi Big Ben.
 

Núi Mawson là ngọn núi Mawson là ngọn núi cao nhất nước Úc (cao hơn Núi Kosciuszko 517 mét), và là một trong hai ngọn núi lửa còn hoạt động ở lãnh thổ nước Úc, cái còn lại nằm ở Đảo McDonald. Một vết nứt dài hẹp có tên "Vết nứt voi" kéo dài từ phía đông của đảo.
 

Có một nhóm các tiểu đảo và bãi đá khoảng 10 km về phía bắc đảo Heard, bao gồm Tiểu đảo Shag, bãi đá Sail, Đảo Morgan và bãi đá Black. Tổng cộng chúng chiếm khoảng 1,1 km².
Quần đảo McDonald nằm cách Đảo Heard 44 km về phía tây. Quần đảo nhỏ và nhiều đá, bao gồm Đảo McDonald (cao 230 m), Đảo Flat (cao 55 m) và bãi đá Meyer (cao 170 m). Chúng có diện tích xấp xỉ 2,5 km² và, cũng như Đảo Heard, là phần phơi bề mặt của Cao nguyên Kerguelen. Đảo McDonald sau khi im lìm trong suốt 75.000 năm, đã phun trào vào năm 1992 và phum trào vài lần nữa kể từ đó, lần phun trào gần đây nhất là vào ngày 10 tháng 8 n ăm 2005. 
Đảo Heard và quần đảo McDonald không có cảng hay bến tàu.
 

10. Dãy núi Greater Blue
 

Khu vực dãy núi Greater Blue thuộc phía Đông Bắc bang New South Wales. Với diện tích trên 1 triệu ha, Great Blue bao gồm các cao nguyên đá sa thạch, tạo thành cảnh quan rất ngoạn mục. Hệ thực vật chủ yếu của vùng là loài bạch đàn ôn đới. Với một số lượng lớn, 91 loài bạch đàn với khả năng thích ứng tuyệt với, tạo ra một sự đa dạng sinh học trên phạm vi phát triển rộng lớn. Khu vực Greater Blue còn có rất nhiều loài thực vật bậc cao (Khoảng 120 loài) quý hiếm đang bị đe dọa đã phát triển và tiếp tục tiến hóa như loài thông Wollomi (Kỷ Jura).
 
11. Vườn quốc gia Kakadu

 

Vườn quốc gia Kakadu là một vườn quốc gia ở Lãnh thổ Bắc, Úc, 171 km về phía đông nam Darwin. Vườn quốc gia Kakadu nằm bên trong vùng Alligator Rivers của Lãnh thổ Bắc Úc. Diện tích là 19.804 km2 (7.646 sq mi), kéo dài gần 200 km bắc-nam và 100 km đông-tây. Nó có kích cỡ bằng đất nước Slovenia, khoảng 1/3 kích thước của Tasmania, hay gần 1/2 đất nước Thụy Sĩ. Mỏ urani Ranger, một trong những mỏ urani sản lượng lớn nhất thế giới nằm ở trong vườn quốc gia này.
 

12. Vùng hồ Willandra
 

Vùng các hồ Willandra ở miền tây nam bang New South Wales, Úc đã đu?c UNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới từ năm 1981, trong khóa họp thứ 5.
Vùng các hồ Willandra này rộng 2.400 km2 và có các giá trị văn hóa cũng như thiên nhiên quan trọng, trong đó có các mẫu đặc biệt về một nền văn minh nhân loại thời quá khứ, kể cả nơi thiêu xác lâu đời nhất. Một khu vực nhỏ trong Vùng này được Vườn quốc gia Mungo bảo vệ.
 

13. Nhóm đảo Lord Howe
 

Đảo Lord Howe là một núi lửa còn sót lại hình lưỡi liềm trong các biển Tasman giữa Úc và New Zealand , 600 km (370 dặm) về phía đông của lục địa Port Macquarie và khoảng 900 km (560 dặm) từ Đảo Norfolk . Hòn đảo dài khoảng 10 km,  giữa 2,0 km và rộng 0,3 km với diện tích 14,55 km 2. Dọc theo bờ biển phía tây có một cát bán kèm theo che chở san hô đầm phá. Hầu hết dân số sống ở miền Bắc, trong khi miền Nam bị chi phối bởi những ngọn đồi có rừng tăng đến điểm cao nhất trên đảo, núi Gower (875 m hoặc 2,871 ft). Các nhóm đảo của quần đảo Lord Howe bao gồm 28 hòn đảo, đảo nhỏ và đá. Ngoài Đảo Lord Howe, đáng chú ý nhất trong số này là các núi lửa và không có người ở bóng của Kim tự tháp khoảng 23 km về phía đông nam. Phía bắc có các quân đoàn , một nhóm bảy hòn đảo không có người ở. 
 
Nhóm đảo chúa Howe là một phần của tiểu bang New South Wales rằng vì mục đích pháp lý, được coi là một khu vực chưa hợp nhất quản lý bởi Lord Howe Island mà các báo cáo để Bộ trưởng Bộ New South Wales Môi trường và di sản. Tiêu chuẩn của hòn đảo múi giờ là UTC +10:30 , hoặc UTC +11 khi tiết kiệm ánh sáng ban ngày thời gian áp dụng. Các loại tiền tệ là đồng đô la Úc. Các hãng hàng không đi lại được liên kết đến Sydney, Brisbane , Port Macquarie và Đảo Norfolk .

 

Nhóm đảo Chúa Howe được ghi nhận bởi UNESCO như một di sản thế giới có ý nghĩa tự nhiên toàn cầu. Hầu hết các hòn đảo là rừng hầu như nguyên vẹn với nhiều loài động thực vật được tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới. Hấp dẫn tự nhiên khác bao gồm sự đa dạng của phong cảnh, sự đa dạng của lớp phủ trên và bazan đại dương, rạn san hô, rào cản san hô cực nam của thế giới, chim biển làm t?, di sản lịch sử và văn hóa phong phú của nó. Các Đạo luật Đảo Lord Howe năm 1981 thành lập một " Công viên Bảo tồn vĩnh cửu "(bao gồm khoảng 70 phần trăm của đảo). Các vùng biển xung quanh là một khu vực được bảo vệ được các công viên biển Đảo Lord Howe . 
 

Đảo Lord Howe được biết đến với địa chất của nó, chim, thực vật và sinh vật biển. Hoạt động du lịch phổ biến bao gồm lặn biển , ngắm chim, lặn biển , lướt sóng , đi thuyền kayak và đánh bắt cá . Để giảm bớt áp lực đối với môi trường hòn đảo nhỏ chỉ có 400 khách du lịch được phép tại một thời điểm. Hòn đảo này đạt được nhờ máy bay từ Sydney hoặc Brisbane trong vòng chưa đầy hai giờ đồng hồ. Công viên thường trực tuyên bố vào năm 1981 có hướng dẫn quản lý tương tự như một công viên quốc gia .
 

Tổng cộng có 202 loài chim khác nhau đã được ghi nhận trên đảo. Mười tám loài chim đất nuôi trên đảo và có rất nhiều các loài di cư hơn xảy ra trên hòn đảo và đảo nhỏ lân cận. Những hòn đảo đã được xác định bởi BirdLife quốc tế như một vùng chim đặc hữu , và Công viên Bảo tồn vĩnh viễn như một vùng chim quan trọng , bởi vì nó hỗ trợ toàn bộ dân số của Lord Howe Woodhens , hầu hết các dân chăn nuôi của Providence Họ Hải , hơn 1% dân số thế giới của một loài chim biển năm , và toàn bộ dân số của ba phân loài đặc hữu. 
Mười bốn loài chim biển sinh sản trên hòn đảo này. Loài đỏ đuôi có thể được nhìn thấy với số lượng lớn quanh các vách đá Malabar, nơi họ thực hiện nghi thức tán tỉnh nhào lộn. Hòn đảo là nơi sinh sản duy nhất của nó trong nhiều năm sau khi thuộc địa giống trên đảo Norfolk đã được tiêu diệt vào cuối thế kỷ 19.  
 

Masked Boobies là chim biển lớn nhất nuôi trên Lord Howe. Sooty, Chim nhạn biển có thể được nhìn thấy tại bãi biển Ned; nhiều nhất của chim biển sinh sản của hòn đảo.  Noddies đen làm tổ trên cây và bụi cây, trong khi Chim nhạn biển trắng đẻ trứng duy nhất của họ bấp bênh trong một cuộc suy thoái nhẹ vào một nhánh cây, và Xám Ternlets đẻ trứng trong hốc vách đá. Môi trường biển là gần nguyên sơ với một hỗn hợp các loài ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới có nguồn gốc từ các dòng hải lưu lạnh ôn đới vào mùa đông và ấm áp hiện tại Úc Đông , chảy từ Great Barrier Reef , trong mùa hè. Trong số 490 loài cá được ghi nhận 13 loài đặc hữu và 60% là nhiệt đới. Hơn 80 loài san hô xảy ra trong các rạn san hô xung quanh các hòn đảo.  Nhiếp ảnh gia dưới nước Úc Neville Coleman đã chụp ảnh khác nhau hải sâm tại Đảo Lord Howe.
 

13. Vườn quốc gia Uluru-Kata Tjuta
 

Vườn quốc gia Uluru-Kata Tjuta là một vườn quốc gia, di sản thế giới UNESCO ở Northern Territory của Australia. Nó nằm 1.431 km về phía nam thành phố Darwinu bằng đường bộ và 440 km về phía tây nam của Alice Springs Stuart và dọc theo lộ Lasseter. Vườn quốc gia này có diện tích 1.398 km vuông và bao gồm có núi đá đỏ Uluru Ayers, và 40 km về phía tây của nó, Kata Tjuta / Mount Olga và được phục vụ bởi các chuyến bay từ các thành phố vốn nhất nước Úc.
Uluru là biểu tượng tự nhiên được nhận biết nhiều nhất của Úc. Các núi đơn sa thạch nổi tiếng thế giới có chiều cao 348 mét, với số lượng lớn đá của nó nằm dưới mặt đất. Các thổ dân Úc tin rằng các thần linh biến thành Uluru là từ thần linh rùa. Kata Tjuta, có nghĩa là 'nhiều người đứng đầu, là một nhóm 36 vòm đá có niên đại 500 triệu năm. Cả hai Uluru và Kata Tjuta có rất ý nghĩa văn hóa cho các chủ đất truyền thống Anangu.
 
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng du lịch tiếp giáp với chân núi Uluru bắt đầu vào những năm 1950 đã sớm tạo ra các tác động xấu về môi trường. Đầu thập niên 1970, người ta đã quyết định loại bỏ tất cả các cơ sở lưu trú du lịch liên quan và thiết lập lại chúng bên ngoài vườn quốc gia. Năm 1975, một trạm quan sát có khả năng quan sát 104 km vuông đất ngoài ranh giới phía bắc của vườn quốc gia, cự ly 15 km so với Uluru, đã được chấp thuận cho sự phát triển của các cơ sở hạ tầng du lịch và sân bay, gọi là Yulara. Các khu cắm trại trong khu vực vườn quốc gia đã được đóng vào năm 1983 và các nhà nghỉ cuối cùng đóng cửa vào cuối năm 1984, trùng hợp với việc mở cửa khu nghỉ mát Yulara.

 

14. Rừng mưa nhiệt đới ở Queensland
 

Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland là vùng rừng nhiệt đới ẩm ướt dọc theo miền đông bắc bang Queensland, Úc. Vùng này rộng khoảng 8.940 km², là phần của dãy núi Great Dividing Range, trải dài từ Townsville tới Cooktown, song song sát với Rạn san hô Great Barrier (một di sản thế giới khác). Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland đáp ứng tất cả 4 tiêu chí để lựa chọn di sản thiên nhiên như là một di sản thế giới. Di sản thế giới được công nhận vào năm 1988 và là di sản Quốc gia của Úc trong tháng 5 năm 2007. 
 
Rừng nhiệt đới có mật độ cao các loài thực vật có hoa nguyên thủy trên thế giới. Ngoài ra, chỉ ở Madagascar và New Caladonia, do cô lập về địa lý, thì mới có các cánh rừng ẩm ướt vùng nhiệt đới với một mức độ có thể so sánh được về tính đặc hữu.
15% khu vực được bảo vệ như là các vườn quốc gia. Trong số đó bao gồm các vườn quốc gia thuộc Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland là:
•    Vườn quốc gia hẻm núi Barron
•    Vườn quốc gia Núi Black (Kalkajaka)
•    Vườn quốc gia Vịnh Cedar
•    Vườn quốc gia Daintree
•    Vườn quốc gia Girringun
•    Vườn quốc gia Wooroonooran
•    Vườn quốc gia Edmund Kennedy
và trên 700 khu vực được bảo vệ ở Queensland, kể cả các khu do tư nhân làm chủ.

 

Các rừng ẩm ướt vùng nhiệt đới được quản lý bởi cơ quan quản lý rừng được thành lập vào năm 1983. Họ có trách nhiệm quản lý các khu rừng này theo Công ước Di sản thế giới. Cơ quan tuyển dụng 20 nhân viên vào năm 2012 như là một đơn vị thuộc Bộ Môi trường và bảo vệ di sản. Cơ quan này được lãnh đạo bởi một Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng Bộ Môi trường, trong đó có cả Bộ của bang Queensland và đại diện Chính phủ Liên bang. Vùng này có nhiều cái độc đáo, như trên 390 loài cây hiếm quí, trong đó có 74 loài có nguy cơ tuyệt chủng. Có ít nhất 85 loài đặc hữu trong vùng, 13 loại khác nhau của rừng nhiệt đới ưa mưa và 29 loài cây đước, nhiều hơn bất cứ nơi nào trong nước.
 

Những Bước Chân

« Previous page Next page »