Trác tuyệt mĩ vị trên những cung đường khám phá

Trác tuyệt mĩ vị trên những cung đường khám phá

5 (100%) 1 vote

Trên những cung đường rày đây mai đó, tôi không những đắm chìm trong những cảnh quan hùng vỹ của thiên nhiên, trò chuyện với những tộc người xa lạ, hoà mình vào những lễ hội đầy màu sắc ở những vùng đất mới mà còn thưởng thức những món ăn độc đáo của người dân địa phương. Có thể nói, hành trình của tôi thêm phần thú vị nhờ vào những câu chuyện về trác tuyệt mỹ vị đâu đó trên những cung đường rong ruổi từ Ma Rốc, Mông Cổ, Indonesia đến xứ Peru xa xôi ở Nam Mỹ.

am-thuc-1

Một góc chợ gia vị ở Marrakech

mt_adplace_blog_post_img

Món thịt hầm trong chiếc tanjine truyền thống

Chính người Ma rốc khuyên tôi rằng: “Bạn phải nhất định bị lạc ở Marrakech”. Và tôi đã lạc thật sự trong thế giới mê cung ẩm thực ở Marrakech, nào là tanjine các loại, đầu cừu luộc, bánh mì tròn, chà là khô, oliu ngâm và nước cam tươi ngọt lịm người.

Trung tâm khu chợ cổ ở Marrakech là quảng trường Jemaa el-Fnaa. Ban ngày, nơi đây thu hút khách du lịch bởi những người Ma Rốc bản địa trong trang phục truyền thống đợi du khách chụp ảnh lưu niệm, những ông già dụ rắn, những xe đẩy hoa quả hay đồ lưu niệm phục vụ cho khách du lịch và cả người dân địa phương. Ban đêm, không khí tại quảng trường càng sôi động hơn bởi quảng trường biến thành khu chợ đêm rộn rịp mà từ lâu đã đứng đầu trong danh sách những điểm cần đến dành cho khách du lịch tới Ma rốc. Khu chợ hoạt động đến tận khuya với vô vàn các món ăn đường phố đặc trưng của xứ Ma Rốc.

Nói về ẩm thực Ma Rốc, tajine là món ăn có thể gọi trong bất kì nhà hàng nào tại Marrakech, từ các nhà hàng sang trọng với những vũ công múa bụng quyến rũ cho tới các hàng quán bình dân khuất trong ngõ nhỏ. Đây là món hầm truyền thống được nấu trên lửa than riêu riêu. Tên tajine được đặt dựa theo thứ đồ đựng cho loại món ăn này: một đĩa to sâu lòng làm bằng đất nung đi kèm một nắp đậy hình nón. Tajine được sản xuất nhiều kích cỡ và trang trí hoa văn, màu sắc khác nhau. Nhờ hình dạng đặc biệt mà đồ ăn trong Tajine luôn chín mềm, ngấm trong gia vị rất thơm ngon mà vẫn giữ hình dáng của thực phẩm. Hai ngày ở Marrakech tôi tranh thủ thử các loại Tajine khác nhau: từ tajine thịt bò, thịt dê, thịt cừu đến thịt gà và các loại rau củ đi kèm. Các món tajine có mùi vị khác nhau nhờ vào liều lượng pha trộn các loại gia vị như như hạt mùi, tiêu, ớt, nghệ, ô liu, hồi được rang và giã nhuyễn. Tôi ấn tượng nhất là món Tajine cừu được thưởng thức ở chợ đêm Marrakech. Cừu được xử lý hết mùi hôi thường thấy, được hầm với khoai tây, ô liu, cà tím, hành tây và tiêu xanh cay lừng. Càng thưởng thức, tôi càng thấy sự phong phú và đa dạng của ẩm thực Ma rốc, không phải ở nguyên liệu chính dồi dào và là sự hòa quyện của hàng trăm thứ gia vị đặc biệt của vùng Bắc Phi.

am-thuc-2

Món Tajine cừu được hầm cùng với khoai tây, cà chua, oliu, ớt chuông ở khu chợ Marrakech

am-thuc-3

Món tajine gà được bày trí rất đẹp trong một nhà hàng ở Marrakech

am-thuc-4

Tajine là món ăn truyền thống của Ma Rốc và cũng được chế biến theo từng vùng miền khác nhau.

am-thuc-5

Kiểu dáng của những chiếc tajine truyền thống

Món Bodog rùng rợn của người du mục Mông Cổ

Có thể nói, cuộc sống của người Mông Cổ là một trong những nền văn hoá du mục lớn nhất thế giới còn sót lại. Trong hàng ngàn năm qua, họ đã sống trên các thảo nguyên, chăn thả vật nuôi trên các đồng cỏ mênh mông. Những trẻ em Mông Cổ đã biết cưỡi ngựa và chăn gia súc từ khi còn rất nhỏ. Mặc dù, khi đời sống ngày càng văn minh, nhưng một bộ phận lớn người dân Mông Cổ vẫn bám lấy thảo nguyên và đàn gia súc lên đến hàng nghìn con. Họ vẫn duy trì lối sống du mục theo sự biến chuyển khắc nghiệt của thời tiết. Họ vẫn ăn thịt cừu, ngủ trong lều vải và sưởi ấm bằng cách đốt phân gia súc. Những chiếc lều có kiểu dáng vô cùng đơn giản với chiếc cửa thấp lè tè không phù hợp với người Mông Cổ cao to, vạm vỡ. Bên trong được bài trí những vật dụng sinh hoạt cần thiết như một chiếc bàn thấp, một bếp lò, một chiếc tủ đựng chăn màn, quần áo cho một gia đình bốn đến năm nhân khẩu. Thông thường một gia đình sẽ có ít nhất hai nhà lều, một dùng để ngủ và một dùng để nấu nướng. Họ cũng có thể xây thêm một lều chữ A để trữ chất đốt khi những cơn mưa thảo nguyên bắt đầu nặng hạt hơn.

Sau hành trình cưỡi ngựa quanh hồ Trắng, tôi đề nghị Oogii, anh bạn đồng hành người Mông Cổ, được xem cách chế biến và thưởng thức món bodog trứ danh của những người du mục nơi đây. Oogii đồng ý và đặt với chủ nhà một con dê chừng 20 kg vào buổi chiều muộn. Mặc dù có tên bodog nhưng món ăn không liên quan tới chó mà được làm từ marmot là một loài gặm nhắm sống trên thảo nguyên Mông Cổ mà trong tác phẩm Totem Sói có nhắc đến. Tuy nhiên marmot hiện nay rất hiếm và được bảo vệ nên chỉ có người bản địa mới biết cách mua chúng từ những người thợ săn lén lút. Ngày nay, do không sẵn có nên người Mông Cổ thay thế nguyên liệu là dê, cừu được nuôi trên thảo nguyên.

Vùng hồ Trắng này có rất nhiều ngọn núi lửa hoạt động cách đầy mười mấy ngàn năm nên đá ở đây được dùng chế biến món bodog rất tuyệt diệu. Những hòn đá nóng được nhét vào bụng con vật và làm thịt chín từ trong ra ngoài. Oogii cùng chủ nhà không làm thịt dê, bò, cừu bằng cách cắt tiết rồi mổ nội tạng như chúng ta, họ tiến hành rút xương và ruột con vật qua đường cổ họng bằng những thao tác thành thục ngay cả khi chúng còn sống. Cách chế biến truyền thống là như thế và mất khoảng 5 giờ đồng hồ cho nên để tiết kiệm thời gian, chủ nhà sẽ mổ con vật, lột da, thái nhỏ, bỏ vào một nồi gang to. Họ xếp một lớp đá, rồi một lớp thịt cho đến khi hết phần thịt của con vật và trên cùng là lớp khoai tây và hành tây nguyên củ. Khoảng 2 giờ là thịt mềm, mùi thơm món ăn sẽ lan toả cả một góc thảo nguyên. OOgii nhắc tôi phải thưởng thức thứ nước dùng được tiết ra bên trong con vật, đây là thứ bổ dưỡng nhất khi thưởng thức món ăn này.

Bodog là món đặc sản của người Mông Cổ, thường được thưởng thức vào mùa đông. Món này béo ngậy nên đóng vai trò quan trọng trong khẩu phần ăn của người Mông Cổ, giúp họ chống chọi với thời tiết lạnh giá. Oogii lý giải cho cách chế biến rùng rợn của món boodog là vào thời kỳ của Thành Cát Tư Hãn, làm món này không cần quá nhiều dụng cụ, và cuộc sống phải di chuyển liên tục trên lưng ngựa. Dù có phần độc dị nhưng bodog luôn là niềm tự hào của người dân nơi đây nhờ hương vị thơm ngon nguyên bản của gia súc vùng thảo nguyên.

am-thuc-6

Toàn cảnh hồ Trắng

am-thuc-7

Chủ nhà đang lột da con dê 20 kg để chế biến món bodog

am-thuc-8

Món bodog được chế biến theo cách đơn giản của người Mông cổ ngày nay

am-thuc-9

Oogii và chủ nhà đang bỏ gia vị vào trong con vật đã được rút xương để chế biến món bodog theo kiểu truyền thống

Món thịt heo Pa’pion nướng trong ống nứa của người Toraja

Có một điều ngạc nhiên là cộng đồng những người theo đạo Tinh Lành ở Tana Toraja khá lớn nên thịt heo phổ biến hơn ở những nơi khác của đất nước có số lượng người Hồi giáo đông nhất thế giới. Mật độ rừng ở Sulawesi dày đặc và sở sữu rất nhiều loài tre nứa trên đảo. Người Toraja dùng tre nứa để làm nên những ngôi nhà mái cong truyền thống từ hàng trăm năm qua. Bên cạnh đó, họ còn dùng chúng để làm dụng cụ chế biến những món ăn độc đáo của riêng mình. Ban đầu, anh bạn Chiko dẫn tôi đến một quán ăn địa phương để thưởng thức món đặc sản ở vùng đất này. Nhìn những ống nứa to như cánh tay của những thanh niên vạm vỡ cháy đen vì nung trên lửa tôi cứ nghĩ nó giống như món cơm lam nhà mình. Tôi sốt sắng bảo Chiko rằng ở xứ tôi cũng có món này và gọi là cơm lam. Tôi luyên thuyên kể đây là món ăn dân dã ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam. Người dân sẽ vo gạo thơm cho sạch rồi ngâm nước khoảng 8 giờ, vớt ra rổ để ráo. Tiếp theo họ sẽ trộn gạo với gừng giã và muối, rồi đổ gạo vào ống nứa, thêm nước ngập gạo. Để cho món cơm lam ngon, họ không đổ nhiều gạo mà cách miệng ống khoảng một đoạn để khi gạo chín sẽ nở đầy kín miệng ống. Sau đó dùng lá chuối đậy kín miệng ống rồi nướng trên lửa. Khi nướng liên tục xoay ống nứa để cơm được chín đều. Đến khi thấy hơi nước bốc ra từ miệng nắp có mùi thơm là cơm lam đã chín. Sau đó chẻ lớp vỏ bên ngoài để lại lớp lạt mỏng. Khi ăn bóc vỏ và ăn cùng với muối vừng sẽ rất ngon. Còn nếu có điều kiện ăn với món gà nướng thì tuyệt cú mèo. Chiko tròn xoe mắt nhìn tôi và dẫn tôi ra phía sau bếp như thể anh ta tự tin vào sự khác biệt mà món ăn của người Toraja mang đến. Đấy là món thịt heo mọi được nướng trong những ống nứa khổng lồ.

Heo vùng này da có màu đen được thả rong nên thịt có phần săn chắc. Họ thái nhỏ thịt heo và tầm ướp một số gia vị như muối, đường, tiêu sọ, hành tím, củ giềng, hồi, lá chanh giã nhuyễn. Một nguyên liệu quan trọng cho món ăn này chính là lá tía tô thái nhỏ bỏ cùng thịt heo gói lại bằng lá chuối rừng trước khi nêm chặt bên trong ống nứa. Họ nướng qua than hồng và luôn trở ống đều tay để thịt chín đều. Khoảng chừng 45 phút, một mẻ thịt chín tới cùng mùi thơm của lá tía tô nghi ngút bốc ra từ ống nứa. Chiko bảo tôi món này dùng với cơm cùng một ít sa tế cay xè cho lên phần thịt nướng và ăn bốc mới hoá thân thành người Toraja bản xứ thực thụ.

am-thuc-10

Những ngôi nhà mái cong truyền thống của người Toraja

am-thuc-11

Phụ nữ Toraja đang lặt rau tía tô chuẩn bị món Pa’pion

am-thuc-12

Những gói thịt heo tầm gia vị được nêm chặt trong ống nứa nướng dưới than hồng khoảng 1 giờ đồng hồ.

am-thuc-13

Món Pa’pion độc đáo của người dân Toraja trên đảo Sulawesi của Indonesia

Nhâm nhi cốc trà từ lá coca trên hòn đảo Taquile

Tôi đi bộ dọc theo chiều dài của hòn đảo Taquila mà xưa kia là nơi sinh sống của những người Inca lừng lẫy. Một không khí thanh bình giữa bốn bề là mặt hồ trong xanh vằng vặt của Titicaca. Với độ cao 3812 m, Taquile làm tôi choáng váng đầu óc dù tôi đã rất tự tin với khả năng thích nghi với độ cao của mình. Nhưng ở đây có một loại lá tên là lá coca được người dân trồng trọt trước nhà hoặc trên các sườn dốc dẫn xuống mặt hồ. Chúng được thu hoạch và bày bán khắp nơi quanh vùng hồ Titicaca. Đấy chính là loại lá được dùng để làm nước Coca Cola và choáng hơn khi được dùng để chế tác cocain. Tôi dừng chân một quán nước ven đường, nhâm nhi cốc trà coca thoang thoảng hương, nhân nhẫn khi nhấm nháp lá coca trong miệng, hít vào lồng ngực không khí trong lành ở Tequila và dường như phấn chấn hẵn lên. Thế mới biết, vì sao con người có thể thích nghi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt trên lưng chừng trời như thế. Phải chăng chỉ một tách trà nóng hổi vào những buổi sớm bình minh.

am-thuc-14

Tách trà thoảng mùi hương coca sẽ giúp người dân nơi đây chống chọi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt ở độ cao trên 3200 mét.

am-thuc-15

Không khí yên bình của hồ Titicaca nhìn từ đảo Taquile.

Hòn đảo với những vết tích bằng đá của nền văn mình Inca xưa kia.

 

Bài và ảnh – Nguyễn Hoàng Bảo

Written by admin